DẪN VÀO THẦN HỌC

DẪN VÀO THẦN HỌC

Lm. Lê Công Đức

dịch từ nguyên bản tiếng Anh

The College Student’s Introduction to Theology

do Thomas P. Rausch, S.Jbiên tập

The Liturgical Press / St.Pauls xuất bản, 1996

MỤC LỤC

Dẫn  Nhập ……………………..

Chương I: Thần Học Và Các Phương Pháp Của Thần Học

Thomas P. Rausch, S.J. …………

Chương II: Trở Về Nguồn: Thánh Kinh Do Thái

Daniel L. Smith-Christopher……….

Chuơng III: Dẫn Vào Tìm Hiểu Tân Ước

Jeffrey S. Siker………..

Chương IV: Giáo Hội Trong Lịch Sử

Herbert J. Ryan, S.J. ……………

Chương V: Đức Tin Kitô Giáo: Một Cái Nhìn Hiện Đại

John R. Connolly ……………….

Chương VI: Khoa Nhân Chủng Thần Học

Mary M. Garascia, C.Pp.S. ……………

Chương VII: Thần Học Luân Lý: Đức Tin Và Lối Sống Kitô Giáo

John R. Popiden …………………..

Chương VIII: Đời Sống Kitô Giáo: Các Bí Tích Và Phụng Vụ

Michael Downey ……………………

Chương IX: Linh Đạo Kitô Giáo

Mary Milligan, R.S.H.M. ……………

Chương X: Các Vấn Đề Trong Giáo Hội Ngày Nay

Marie Anne Mayeski …………….

Chương XI: Thần Học Và Các Tôn Giáo Thế Giới

Christopher Key Chapple ……………

Bảng chú giải từ vựng ………………………

Bảng chữ viết tắt ……………………………

Các bản đồ …………………………………..

DẪN NHẬP

Từ khoảng cuối thế kỷ 12, khi các sinh viên và các học giả bắt đầu tổ chức thành những tập thể hay các “đại học” tại các thành phố như Bologna, Paris và Oxford, thì thần học đã trở thành một môn học cơ hữu. Khi các đại học này bắt đầu thay chỗ cho các học viện nhà tu hay học viện nhà thờ chính tòa, chúng thường bao gồm một số khoa phân biệt nhau, trong đó có khoa thần học. Khoảng năm 1250, Đại Học Paris đã có các khoa văn, luật, y, thần học – và đó là những khoa đã làm nên tên tuổi cho trường đại học này.

Khi Inhaxiô Lôyôla phác họa một nhãn quan giáo dục cho các đại học của hội dòng mà ngài mới thành lập hồi thế kỷ 16, ngài đặt nhãn quan đó trên nền tảng là những gì mà chính ngài đã kinh nghiệm trong quá trình học vấn của ngài, nhất là trong giai đoạn ngài học ở Paris. Cách riêng Inhaxiô đề cao tầm quan trọng của thần học, ngài tuyên bố rằng “trong các đại học của hội dòng, phải đặc biệt nhấn mạnh thần học” (Hiến Pháp, 446). Đối với Inhaxiô, thần học phải là một môn học chặt chẽ, điều mà Michael Buckley mô tả là “một sự khôn ngoan có cấu trúc mạch lạc” (1).  Trong các học viện của hội dòng, việc giảng dạy chính thức về thần học (phân biệt với việc giảng dạy về tôn giáo) sẽ bắt đầu cho các sinh viên ở độ tuổi 17. Đành rằng việc học thần học thường chỉ dành cho những ai chuẩn bị lãnh chức linh mục, song chỗ đứng quan trọng của môn học này trong chương trình giảng dạy của Dòng Tên vẫn in một dấu ấn sâu xa nơi tất cả những ai từng theo học tại các đại học của dòng này.

Các đại học của dòng Tên đã thiết chế một trong những hệ thống giáo dục đầu tiên trong lịch sử (2).  Nhưng chúng vẫn đi theo một mô hình  đại học thời Trung cổ với một tí chút sửa đổi – mô hình này xét căn bản vẫn còn tồn tại ở Âu Châu cho tới ngày hôm nay. Thần học có mặt trong trường đại học với tư cách là một chuyên khoa; nó thường không được hội nhập vào chương trình đại cương.

Ở Hoa Kỳ, tình hình hoàn toàn khác. Các đại học Mỹ được chia thành cấp đại học và cấp trên đại học. Đa số các trường đại học quốc lập không có phân khoa thần học (hay thường được gọi là phân khoa nghiên cứu tôn giáo), song ngày nay tình hình này đang bắt đầu thay đổi. Các đại học tư hay các đại học liên kết với Giáo Hội thường cung cấp những khóa học về tôn giáo hay thần học – đây có thể là những khóa tùy chọn hay bắt buộc.

Trong những năm trước Công Đồng Vatican II, việc học thần học Công Giáo ở Hoa Kỳ đã bắt đầu thay đổi một cách ngoạn mục. Trước Công Đồng, việc giảng dạy thần học chủ yếu diễn ra trong các chủng viện. Các sinh viên tại các đại học Công Giáo nói chung được dạy về tôn giáo; họ không học thần học: “Cho tới những năm 1950, phần đông các đại học Công Giáo đã không cung cấp những khóa thần học ngay cả xét như một môn thuần túy có tính học thuật. Đó là những học viện văn khoa với chương trình rộng thoáng, tập trung vào triết học chứ không phải thần học. Đa số các đại học ấy có cung ứng những khóa nghiên cứu tôn giáo, nhưng đây thường là những khóa thiên về minh giáo và trong nhiều trường hợp các khóa này không đòi tín chỉ. Rất thường, vị giảng viên phụ trách không thuộc hội đồng khoa và không cần phải được nhà trường trao ủy nhiệm thư giảng dạy. Mục đích của các chương trình này là truyền đạt một cách một chiều các yếu tố của đức tin Công Giáo”. (3)

Mọi sự đã thay đổi sau Công Đồng Vatican II. Khi ngày càng có nhiều nam nữ giáo dân bắt đầu đoạt những văn bằng tốt nghiệp về thần học, Hội Thần Học Công Giáo Mỹ – nguyên là một tổ chức của các giáo sư chủng viện – đã thay đổi các điều lệ của mình vào năm 1964 để đón nhận các giáo dân ấy vào làm thành viên. Các đại học Công Giáo bắt đầu phát triển những phân khoa thần học có tính chuyên môn cao. Thành viên của khoa bây giờ gồm cả nam nữ giáo dân bên cạnh các linh mục và tu sĩ , ngày càng tích cực trong công tác nghiên cứu và ngay cả tham gia vào các hội thần học chuyên nghiệp. Với tình hình như vậy, địa điểm của việc giảng dạy thần học cũng đã chuyển dời từ các chủng viện đến các trường đại học và trên-đại-học.

Nhưng đà chuyên môn hóa ngày càng tăng ấy của các đại học Công Giáo nói chung và của các phân khoa thần học nói riêng đã được thấy là một điều vừa may vừa không may. Rất thường, các học viện Công Giáo hoàn toàn bắt chước các tiêu chuẩn và các giá trị học thuật của nền giáo dục đại học thế tục của Mỹ. Nhiều học viện như thế đã phải cắt xén các định hướng tôn giáo cố hữu của mình. Trong nỗ lực tập trung vào tính mô tả hơn là tuyên tín, nhiều phân khoa thần học đã tự biến mình thành những phân khoa nghiên cứu tôn giáo. Các phân khoa này đã trở nên rất “đa nguyên” xét về các phương pháp tiếp cận và xét về tính năng của chúng.

Tính đa nguyên ấy đặc biệt bộc lộ rõ trong các yêu cầu đặt ra cho việc học thần học/ tôn giáo ở các đại học Hoa Kỳ ngày nay. Mức yêu cầu trung bình hiện nay là hai khóa (4),  trong đó khóa nhập môn đôi khi là khóa bắt buộc. Nhưng thường thì sinh viên có thể hoàn thành bất cứ hai khóa nào. Với chỉ hai hay ba khóa, thường chẳng có liên quan gì mấy với nhau, một sinh viên hoàn toàn có thể tốt nghiệp một đại học Công Giáo mà không cần phải đọc một quyển Phúc Âm nào, không cần phải tìm hiểu Kitô học hay Giáo Hội học, cũng chẳng cần dự một khóa nào về đạo đức học Kitô giáo hay về thần học luân lý. Vì không có mấy sự nhấn mạnh đến lịch sử Giáo Hội, các sinh viên thường lạ lẫm với truyền thống Kitô giáo; họ không đọc Augustinô, Tôma Aquinô, Luther hay Newman. Họ ít biết về các truyền thống và các tôn giáo khác ngoài tôn giáo của chính họ. Và vì không có một hệ thống có tính liên thông, họ ít được dẫn nhập một cách bài bản vào việc nghiên cứu thần học và ít có cơ hội để nắm được một cái nhìn toàn diện về tất cả những gì bao hàm trong thần học.

Vì vậy, quyển sách này – được biên soạn để sử dụng như một giáo trình bổ sung – sẽ cố gắng giới thiệu việc nghiên cứu thần học và các phương pháp khảo cứu đa dạng của nó. Không giống như cách tiếp cận cố hữu của các giáo trình cũ (de Deo Uno, de Deo Trino, vv…), cách tiếp cận ở đây sẽ có tính phương pháp luận. Thần học ngày nay đã ngày càng được “qui hoạch” thành các “khu vực” khác nhau, bao gồm nhiều môn chuyên biệt khác nhau. Tuy nhiên, khi giới thiệu những lãnh vực đa dạng của công cuộc nghiên cứu thần học, chúng tôi sẽ đề cập đến nhiều chủ đề truyền thống để làm những ví dụ.

Quyển sách này gồm ba phần. Phần I giới thiệu các vấn đề nền tảng. Chương 1 khảo sát bản chất của thần học vừa xét như một khoa học – với công việc phê bình của nó và với những chuyên ngành của nó – vừa xét như một công việc của Giáo Hội. Chương này cũng đề cập đến những căng thẳng đôi khi bật lên giữa các nhà thần học và các giám mục do bởi bản tính hai mặt này của thần học. Chương 2, Daniel L. Smith-Christopher sẽ trình bày câu chuyện của Israel và các Sách thuộc bộ Thánh Kinh Do Thái. Jeffrey Siker, ở chương 3, sẽ phác họa quá trình phát triển của qui điển Tân Ước, đồng thời sẽ đề cập đến những phương pháp phê bình Thánh Kinh và những khía cạnh đặc biệt của các Sách Tân Ước. Herbert J. Ryan, trong chương 4, sẽ đưa ra một cái nhìn toàn cục về lịch sử Giáo Hội.

Phần II bao gồm một số vấn đề có tính hệ thống. Chương 5, John R. Connolly sẽ khảo sát đức tin Kitô giáo, sẽ đối chiếu giữa một mẫu thức đức tin có tính tri thức và một cách tiếp cận có tính ngã vị; trong khi thảo luận về đức tin vừa xét như hành động vừa xét như nội dung, tác giả sẽ giới thiệu những chủ đề như: mạc khải, Kitô học , Giáo Hội, và các biểu tượng của đức tin. Mary M. Garascia, trong chương 6, sẽ khám phá một số vấn đề thuộc khoa nhân chủng thần học, sẽ khám phá về nhân vị xét như là hình ảnh của Thiên Chúa, xét như là tội nhân và được cứu, xét như là một bản ngã trước mặt Thiên Chúa, và xét như là một hữu thể có tính xã hội. Chương 7, John R. Popiden sẽ tìm hiểu bản chất và các phương pháp của thần học luân lý. Chương 8, Michael Downey sẽ giới thiệu một nhãn quan có tính bí tích nhấn mạnh đến ý nghĩa của các bí tích trong đời sống Kitôhữu.

Phần III khảo sát một số vấn đề hiện nay trong đời sống Giáo Hội. Mary Miligan, trong chương 9, sẽ giới thiệu ý niệm về linh đạo, tìm hiểu nhiều linh đạo khác nhau và những cá nhân điển hình của các linh đạo ấy. Chương 10, Marie Anne Mayeski sẽ thảo luận về ảnh hưởng của Công Đồng Vatican II đối với thần học Công Giáo Rôma và sẽ tập chú đến hai vấn đề của thời hậu Công Đồng, đó là phong trào đại kết và phong trào nữ quyền. Cuối cùng, trong chương 11, xuất phát từ tiếng gọi của Vatican II gọi mời đối thoại và hợp tác với các tín đồ thuộc các tôn giáo khác, Christopher Chapple sẽ trình bày vắn tắt về các tôn giáo lớn không thuộc Tây phương.

Quyển sách này được viết từ nhãn quan Công Giáo Rôma, song phương pháp tiếp cận của nó có tính đại kết – điều này nằm trong chủ ý của các tác giả. Nó cũng phản ảnh tính đa nguyên của thần học hiện đại qua những nhãn giới khác nhau của các tác giả. Cần phải tôn trọng tính đa dạng đó. Các tác giả cộng tác trong tập sách này đã cố gắng – dù không phải luôn luôn thành công – để làm cho ngôn ngữ của các văn liệu lịch sử có tính bao gồm  hơn. Những điều chỉnh, nếu có, sẽ được đặt trong dấu ngoặc. Các bản văn của Công Đồng Vatican II sẽ được ghi xuất xứ  bằng tiêu đề La ngữ của các văn kiện; và độc giả sẽ tìm thấy ở cuối sách một bảng liệt kê các chữ viết tắt.

Quyển sách này là công trình hợp tác của các thành viên thuộc phân khoa thần học ở Đại Học Loyola Marymount. Nó được sử dụng lần đầu tiên trong một lớp học tại trường Đại Học này vào mùa xuân 1991. Tất cả chúng tôi trong phân khoa – là những người thu nhận được nhiều ích lợi từ công trình này – rất chân thành tri ân các sinh viên đã tham dự lớp học nói trên và đã đóng góp nhiều nhận định và đề nghị. Giới thiệu loạt bài này trong hình thức một quyển sách, chúng tôi hy vọng nó sẽ hữu ích để giúp cho độc giả làm quen với lãnh vực nghiên cứu thần học, một lãnh vực rất phong phú nhưng cũng đầy phức tạp.

Thomas P. Rausch, S.J.

——————–

(1)  Xem Michael J. Buckley, “In Hunc Potissimum…: Nhận thức của Inhaxiô về đại học Dòng Tên, “ Reading in Ignatian Higher Education 1 (Spring 1989) 24.

(2) Cf. George E. Ganss, The Constitution of the Society of Jesus (St. Louis: Institute of Jesuit Sources, 1970) 174.

(3) Robert J. Wister, “The Teaching of Theology 1950-90: the American Catholic Experience,” America 162 (February 3, 1990) 92; xin xem thêm David J. O’Brien, “The Church and Catholic Higher Education,” Horizons 17 (1990) 14.

(4) Chẳng hạn, trong số 28 đại học Dòng Tên ở Hoa Kỳ vào năm 1990, có 2 đại học yêu cầu bốn khóa, 10 trường khác đòi ba khóa, 15 trường đòi hai khóa, và 1 trường yều cầu một khóa.
Nguồn : http://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/05/14/cac-giam-muc-nigieria/

Từ “confiance” trong Thánh Kinh Cựu Ước

Từ “confiance” trong Thánh Kinh Cựu Ước



Đọc tiếp

Từ “confiance” (tin tưởng) trong Thánh Kinh Tân Ước

Évangile selon Saint Matthieu
Bible de Jérusalem
9,2 Et voici qu’on lui apportait un paralytique étendu sur un lit. Jésus, voyant leur foi, dit au paralytique : “Aie confiance, mon enfant, tes péchés sont remis.”
9,22 Jésus se retournant la vit et lui dit : “Aie confiance, ma fille, ta foi t’a sauvée.” Et de ce moment la femme fut sauvée.
14,27 Mais aussitôt Jésus leur parla en disant : “Ayez confiance, c’est moi, soyez sans crainte.”
Évangile selon Saint Marc
Bible de Jérusalem
6,50 car tous le virent et furent troublés. Mais lui aussitôt leur parla et leur dit : “Ayez confiance, c’est moi, soyez sans crainte.”
10,49 Jésus s’arrêta et dit : “Appelez-le.” On appelle l’aveugle en lui disant : “Aie confiance ! lève-toi, il t’appelle.”
Actes des Apôtres
Bible de Jérusalem
24,9 Alors, le gouverneur lui ayant fait signe de parler, Paul répondit : “Voilà, je le sais, de nombreuses années que tu as cette nation sous ta juridiction ; aussi est-ce avec confiance que je plaiderai ma cause.
Première épître de Saint Paul aux Corinthiens
Bible de Jérusalem
7,25 Pour ce qui est des vierges, je n’ai pas d’ordre du Seigneur, mais je donne un avis en homme qui, par la miséricorde du Seigneur, est digne de confiance.
Deuxième épître de Saint Paul aux Corinthiens
Bible de Jérusalem
1,9 Vraiment, nous avons porté en nous-mêmes notre arrêt de mort, afin d’apprendre à ne pas mettre notre confiance en nous-mêmes mais en Dieu, qui ressuscite les morts.
7,4 J’ai grande confiance en vous, je suis très fier de vous. Je suis comblé de consolation ; je surabonde de joie dans toute notre tribulation.
8,22 Avec eux nous envoyons aussi celui de nos frères dont nous avons éprouvé l’empressement de maintes manières et en maintes circonstances, et qui maintenant est beaucoup plus empressé, en raison de la grande confiance qu’il a en vous.
Épître de Saint Paul aux Galates
Bible de Jérusalem
5,10 Pour moi, j’ai confiance qu’unis dans le Seigneur vous n’aurez pas d’autre sentiment ; mais qui vous trouble subira sa condamnation, quel qu’il soit.
5,22 Mais le fruit de l’Esprit est charité, joie, paix, longanimité, serviabilité, bonté, confiance dans les autres,
Épître de Saint Paul aux Ephésiens
Bible de Jérusalem
3,12 et qui nous donne d’oser nous approcher en toute confiance par le chemin de la foi au Christ.
Épître de Saint Paul aux Philippiens
Bible de Jérusalem
3,3 Car c’est nous qui sommes les circoncis, nous qui offrons le culte selon l’Esprit de Dieu et tirons notre gloire du Christ Jésus, au lieu de placer notre confiance dans la chair.
3,4 J’aurais pourtant sujet, moi, d’avoir confiance même dans la chair ; si quelque autre croit avoir des raisons de se confier dans la chair, j’en ai bien davantage :
Deuxième épître de Saint Paul aux Thessaloniciens
Bible de Jérusalem
3,4 Nous avons d’ailleurs, dans le Seigneur, toute confiance en vous : ce que nous vous prescrivons, vous le faites et vous continuerez de le faire.
Première épître de Saint Paul à Timothée
Bible de Jérusalem
6,17 Aux riches de ce monde, recommande de ne pas juger de haut, de ne pas placer leur confiance en des richesses précaires, mais en Dieu qui nous pourvoit largement de tout, afin que nous en jouissions.
Épître de Saint Paul à Philémon
Bible de Jérusalem
1,21 Je t’écris avec pleine confiance en ta docilité : je sais bien que tu feras plus encore que je ne demande.
Épître aux Hébreux
Bible de Jérusalem
2,13 Pour moi j’aurai confiance en lui. Et encore : Nous voici, moi et les enfants que Dieu m’a donnés.
3,14 Car nous sommes devenus participants du Christ, si toutefois nous retenons inébranlablement jusqu’à la fin, dans toute sa solidité, notre confiance initiale.
Apocalypse
Bible de Jérusalem
13,10 Les chaînes pour qui doit être enchaîné ; la mort par le glaive pour qui doit périr par le glaive ! Voilà qui fonde l’endurance et la confiance des saints.

Từ “entraille” trong Thánh Kinh Cựu Ước

Mot recherché : entraille

Nombre d’enregistrements trouvés : 69

Genèse
Bible de Jérusalem
43,30 Et Joseph se hâta de sortir, car ses entrailles s’étaient émues pour son frère et les larmes lui venaient aux yeux : il entra dans sa chambre et là, il pleura.
Exode
Bible de Jérusalem
29,13 Tu prendras toute la graisse qui recouvre les entrailles, la masse graisseuse partant du foie, les deux rognons avec la graisse qui y adhère, et tu les feras fumer à l’autel.
29,17 Tu couperas le bélier en quartiers, tu en laveras les entrailles et les pattes, et tu les mettras sur ses quartiers et sur sa tête.
29,22 “Du bélier, tu prendras la graisse, la queue, la graisse qui recouvre les entrailles et la masse graisseuse partant du foie, les rognons et la graisse qui y adhère, ainsi que la patte droite, car c’est un bélier d’investiture.
Lévitique
Bible de Jérusalem
1,9 L’homme lavera dans l’eau les entrailles et les pattes et le prêtre fera fumer le tout à l’autel. Cet holocauste sera un mets consumé en parfum d’apaisement pour Yahvé.
1,13 L’homme lavera dans l’eau les entrailles et les pattes et le prêtre offrira le tout qu’il fera fumer à l’autel. Cet holocauste sera un mets consumé en parfum d’apaisement pour Yahvé.
3,3 Il offrira une part de ce sacrifice de communion à titre de mets consumé pour Yahvé : la graisse qui couvre les entrailles, toute la graisse qui est au-dessus des entrailles,
3,9 De ce sacrifice de communion il offrira la graisse en mets consumé pour Yahvé : la queue entière qu’il détachera près du sacrum, la graisse qui couvre les entrailles, toute la graisse qui est au-dessus des entrailles,
3,14 Voici ce qu’il en offrira ensuite à titre de mets consumé pour Yahvé : la graisse qui couvre les entrailles, toute la graisse qui est au-dessus des entrailles,
4,8 De toute la graisse de ce taureau offert en sacrifice pour le péché voici ce qu’il prélèvera : la graisse qui couvre les entrailles, toute la graisse qui est au-dessus des entrailles,
4,11 La peau du taureau et toute sa chair, sa tête, ses pattes, ses entrailles et sa fiente,
7,3 Puis il en offrira toute la graisse : la queue, la graisse qui couvre les entrailles,
8,16 Il prit ensuite toute la graisse qui enveloppe les entrailles, la masse de graisse qui part du foie, les deux rognons et leur graisse, et il les fit fumer à l’autel.
8,21 Il lava dans l’eau les entrailles et les pattes et fit fumer à l’autel le bélier tout entier. C’était un holocauste en parfum d’apaisement, un mets consumé pour Yahvé, comme Yahvé l’avait ordonné à Moïse.
8,25 il prit aussi la graisse : la queue, toute la graisse qui adhère aux entrailles, la masse de graisse qui part du foie, les deux rognons et leur graisse, la cuisse droite.
9,14 Il lava entrailles et pattes et les fit fumer à l’autel en plus de l’holocauste.
Nombres
Bible de Jérusalem
5,22 Que ces eaux de malédiction pénètrent en tes entrailles pour que s’enfle ton ventre et que se flétrisse ton sexe ! La femme répondra : Amen ! Amen !
Deutéronome
Bible de Jérusalem
28,4 Bénis seront le fruit de tes entrailles, le produit de ton sol, le fruit de ton bétail, la portée de tes vaches et le croît de tes brebis.
28,11 Yahvé te fera surabonder de biens : fruit de tes entrailles, fruit de ton bétail et fruit de ton sol, sur cette terre qu’il a juré à tes pères de te donner.
28,18 Maudits seront le fruit de tes entrailles et le fruit de ton sol, la portée de tes vaches et le croît de tes brebis.
28,53 Tu mangeras le fruit de tes entrailles, la chair de tes fils et de tes filles que t’aura donnés Yahvé ton Dieu, pendant ce siège et dans cette détresse où ton ennemi te réduira.
30,9 Yahvé ton Dieu te rendra prospère en toutes tes entreprises, dans le fruit de tes entrailles, dans le fruit de ton bétail et dans le fruit de ton sol. Car de nouveau Yahvé prendra plaisir à ton bonheur, comme il avait pris plaisir au bonheur de tes pères,
Deuxième livre de Samuel
Bible de Jérusalem
7,12 Et quand tes jours seront accomplis et que tu seras couché avec tes pères, je maintiendrai après toi le lignage issu de tes entrailles (et j’affermirai sa royauté.
16,11 David dit à Abishaï et à tous ses officiers : “Voyez : le fils qui est sorti de mes entrailles en veut à ma vie. A plus forte raison maintenant ce Benjaminite ! Laissez-le maudire, si Yahvé le lui a commandé.
20,10 Amasa ne prit pas garde à l’épée que Joab avait en main, et celui-ci l’en frappa au ventre et répandit ses entrailles à terre. Il n’eut pas à lui donner un second coup et Amasa mourut, tandis que Joab et son frère Abishaï se lançaient à la poursuite de Shéba fils de Bikri.
Deuxième livre des Chroniques
Bible de Jérusalem
21,15 Toi-même tu seras frappé de graves maladies, d’un mal d’entrailles tel que par cette maladie, jour après jour, tu te videras de tes entrailles.”
21,18 Après tout cela, Yahvé le frappa d’une maladie d’entrailles incurable ;
21,19 cela arriva jour après jour, et vers la fin de la deuxième année, il se vida de ses entrailles et mourut dans de cruelles souffrances. Le peuple ne lui fit pas de feux comme il en avait fait pour ses pères.
Livre de Tobie
Bible de Jérusalem
6,5 L’ange lui dit : “Ouvre-le, enlève le fiel, le coeur et le foie ; mets-les à part, et jette les entrailles, parce que le fiel, le coeur et le foie font des remèdes utiles.”
Deuxième livre des Maccabées
Bible de Jérusalem
7,22 “Je ne sais comment vous avez apparu dans mes entrailles ; ce n’est pas moi qui vous ai gratifiés de l’esprit et de la vie ; ce n’est pas moi qui ai organisé les éléments qui composent chacun de vous.
9,5 Mais le Seigneur qui voit tout, le Dieu d’Israël, le frappa d’une plaie incurable et invincible. A peine avait-il achevé sa phrase qu’une douleur d’entrailles sans remède le saisit et que des souffrances aiguës le torturaient au-dedans,
9,6 ce qui était pleine justice, puisqu’il avait infligé aux entrailles des autres des tourments nombreux et étranges.
14,46 et déjà tout à fait exsangue, il s’arracha les entrailles et, les prenant à deux mains, il les projeta sur la foule, priant le maître de la vie et de l’esprit de les lui rendre un jour. Ce fut ainsi qu’il mourut.
Isaïe
Bible de Jérusalem
16,11 C’est pourquoi mes entrailles, pour Moab, frémissent comme une cithare, et mon coeur pour Qir-Hérès.
49,1 Iles, écoutez-moi, soyez attentifs, peuples lointains ! Yahvé m’a appelé dès le sein maternel, dès les entrailles de ma mère il a prononcé mon nom.
49,15 Une femme oublie-t-elle son petit enfant, est-elle sans pitié pour le fils de ses entrailles ? Même si les femmes oubliaient, moi, je ne t’oublierai pas.
63,15 Regarde du ciel et vois, depuis ta demeure sainte et glorieuse. Où sont ta jalousie et ta puissance ? Le frémissement de tes entrailles et ta piété pour moi se sont-ils contenus ?
Jérémie
Bible de Jérusalem
4,19 Mes entrailles ! Mes entrailles ! Que je souffre ! Parois de mon coeur ! Mon coeur s’agite en moi ! Je ne puis me taire car j’ai entendu l’appel du cor, le cri de guerre.
20,17 car il ne m’a pas fait mourir dès le sein, pour que ma mère soit un tombeau et que ses entrailles me portent à jamais.
31,20 Ephraïm est-il donc pour moi un fils si cher, un enfant tellement préféré, que chaque fois que j’en parle je veuille encore me souvenir de lui ? C’est pour cela que mes entrailles s’émeuvent pour lui, que pour lui déborde ma tendresse, oracle de Yahvé.
Lamentations
Bible de Jérusalem
1,20 Vois, Yahvé, quelle est mon angoisse ! Mes entrailles frémissent ; mon coeur en moi se retourne : Ah ! je n’ai fait qu’être rebelle ! Au-dehors l’épée me prive d’enfants, au-dedans, c’est comme la mort.
2,11 Mes yeux sont consumés de larmes, mes entrailles frémissent, mon foie s’épand à terre pour le brisement de la fille de mon peuple, tandis que défaillent enfants et nourrissons sur les places de la Cité.
Livre de Baruch
Bible de Jérusalem
2,17 ouvre les yeux, Seigneur, et vois ; ce ne sont pas les morts dans le shéol, ceux dont le souffle fut enlevé des entrailles, qui rendent gloire et justice au Seigneur ;
Osée
Bible de Jérusalem
9,14 Donne-leur, Yahvé… Que donneras-tu ? Donne-leur des entrailles stériles et des seins desséchés.
11,8 Comment t’abandonnerais-je, Ephraïm, te livrerais-je, Israël ? Comment te traiterais-je comme Adma, te rendrais-je semblable à Ceboyim ? Mon coeur en moi est bouleversé, toutes mes entrailles frémissent.
Jonas
Bible de Jérusalem
2,1 Yahvé fit qu’il y eut un grand poisson pour engloutir Jonas. Jonas demeura dans les entrailles du poisson trois jours et trois nuits.
2,2 Des entrailles du poisson, il pria Yahvé, son Dieu. Il dit :
Michée
Bible de Jérusalem
6,7 Prendra-t-il plaisir à des milliers de béliers, à des libations d’huile par torrents ? Faudra-t-il que j’offre mon aîné pour prix de mon crime, le fruit de mes entrailles pour mon propre péché” –
Livre de Job
Bible de Jérusalem
20,14 Cet aliment dans ses entrailles se corrompt, devient au-dedans du fiel d’aspic.
30,27 Mes entrailles bouillonnent sans relâche, les jours de souffrance m’ont atteint.
Psaumes
Bible de Jérusalem
7,6 que l’ennemi poursuive mon âme et l’atteigne ! Qu’il écrase ma vie contre terre et relègue mes entrailles dans la poussière !
16,9 (15,9) Aussi, mon coeur exulte, mes entrailles jubilent, et ma chair reposera en sûreté ;
22,11 (21,11) sur toi je fus jeté au sortir des entrailles ; dès le ventre de ma mère, mon Dieu c’est toi.
31,10 (30,10) Pitié pour moi, Yahvé, l’oppression est sur moi ! Les pleurs me rongent les yeux, la gorge et les entrailles.
40,9 (39,9) de faire tes volontés ; mon Dieu, j’ai voulu ta loi au profond de mes entrailles.
71,6 (70,6) Sur toi j’ai mon appui dès le sein, toi ma part dès les entrailles de ma mère, en toi ma louange sans relâche.
77,10 (76,10) Est-ce que Dieu oublie d’avoir pitié, ou de colère ferme-t-il ses entrailles ?
127,3 (126,3) C’est l’héritage de Yahvé que des fils, récompense, que le fruit des entrailles ;
132,11 (131,11) Yahvé l’a juré à David, vérité dont jamais il ne s’écarte : “C’est le fruit sorti de tes entrailles que je mettrai sur le trône fait pour toi.
Proverbes
Bible de Jérusalem
12,10 Le juste connaît les besoins de ses bêtes, mais les entrailles du méchant sont cruelles.
18,8 Les dires du calomniateur sont de friands morceaux qui descendent jusqu’au fond des entrailles.
26,22 Les dires du calomniateur sont de friands morceaux qui descendent jusqu’au fond des entrailles.
31,2 Quoi, mon fils ! quoi, fils de mes entrailles ! quoi, fils de mes voeux !
Cantique des Cantiques
Bible de Jérusalem
5,4 Mon bien-aimé a passé la main par la fente, et pour lui mes entrailles ont frémi.
Sagesse de Salomon
Bible de Jérusalem
12,5 Ces impitoyables tueurs d’enfants, ces mangeurs d’entrailles en des banquets de chairs humaines et de sang, ces initiés membres de confrérie,
Siracide (Ecclésiastique)
Bible de Jérusalem
30,7 Celui qui gâte son fils pansera ses blessures, à chacun de ses cris ses entrailles tressailliront.
40,30 A la bouche de l’impudent la mendicité est douce, mais à ses entrailles, c’est un feu brûlant.
51,5 des profondeurs des entrailles du shéol, de la langue impure, de la parole menteuse, –
51,21 Mes entrailles se sont émues pour la chercher, aussi ai-je fait une bonne acquisition.

Sự kỳ diệu – sự sống là quà tặng vô giá của Thiên Chúa dành cho mỗi người chúng ta

Seri ảnh các giai đoạn phát triển của thai nhi

In Data Medical, Sản phụ khoa on Tháng Năm 15, 2009 at 9:32 chiều

Đây là một seri các hình ảnh về thai nhi, nó cho thấy cái nhìn tổng quát về các giai đoạn phát triển của thai nhi từ tuần thứ 2 đến tuần thứ 41 nhưng cũng đầy sinh động giúp cho chúng ta có sự tưởng tượng phong phú cũng như hiểu rõ hơn về quá trình mang thai và sự phát triển của đứa trẻ trong bụng mẹ .

Thai kỳ phát triển của bào thai có thể được chia làm ba giai đoạn. Giai đoạn thụ thai được xem như là phần đầu tiên kéo dài khoảng chừng hai tuần đầu của thai kỳ. Từ hai đến tám tuần lễ (hai tháng) bé phát triển như một phôi thai – nên còn gọi là thời kỳ phôi. Giai đoạn còn lại (từ tuần thứ chín đến khi sinh) gọi là thời kỳ bào thai và em bé trong bụng mẹ lúc đó được gọi là bào thai.

Thời kỳ thụ thai (hai tuần đầu)

2w
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 2 tuần tuổi

Thời kỳ phát triển phôi (tuần lễ thứ hai đến thứ tám)

Trước khi được sinh ra thai nhi phát triển qua nhiều giai đoạn. Ví dụ: Não và tim bắt đầu phát triển trước đường tiêu hóa, bộ xương và các cơ. Những chi tiết như tóc và mi mắt xuất hiện chậm hơn nhiều. Nếu có một yếu tố nào làm ảnh hưởng đến giai đoạn phát triển, đặc biệt thuốc uống hay bức xạ thì sự tổn thương sẽ xảy ra.

Ví dụ: Ngón tay, ngón chân được hình thành từ tuần lễ thứ sáu đến thứ tám của thai kỳ. Nếu có điều gì đó can thiệp vào sự phát triển của chúng thì chúng sẽ không sửa chữa được sau này. Phần lớn các giai đoạn phát triển các cơ quan quan trọng diễn ra trong 12 tuần đầu vì thế phôi đang phát triển có thể bị tổn hại nghiêm trọng bởi thuốc uống hay bệnh hoạn trong thời gian này. Một khi các bộ phận và các hệ bộ phận ở đúng vị trí, chúng ít khi bị tổn hại. Ðó là điều tại sao một số bệnh cúm xảy ra trong 12 tuần đầu có thể dẫn đến những sự bất thường nghiêm trọng.

1 – 4 tuần đầu tiên:

Trứng đã được thụ tinh và nhóm tế bào phát triển thành thai nhi được gọi là phôi. Các tế bào bắt đầu phân chia mạnh mẽ và bám chắc vào dạ con.

Hệ thống nuôi dưỡng phôi thai được hình thành ở thành tử cung, các mấu nhỏ hoặc lông tơ được tạo thành với những mạch máu rất nhỏ sẽ cung cấp máu, năng lượng và protein hấp thụ từ noãn giúp cho quá trình phân chia tế bào diễn ra và nuôi dưỡng bào thai sau này.

3w
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 3 tuần tuổi
4w
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 4 tuần tuổi

5 – 8 tuần:

Khối tế bào phát triển mạnh mẽ tạo thành một phôi mầm. Bước sang tuần thứ 6 phôi mầm đã trở thành bào thai thực sự, xương sống và hệ thần kinh nguyên thủy đã dần hình thành.

Ở vào khoảng tuần 7 đến cuối tuần 8, tim của thai nhi đã bắt đầu hình thành và đã bắt đầu hoạt động. Hệ thần kinh phát triển nhanh chóng, đặc biệt là não bộ. Mắt cũng đã bắt đầu hình thành dưới da mặt, đầu lớn dần và tứ chi cùng các cơ quan nội tạng cũng phát triển không ngừng.

5w
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 5 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 6 tuần tuổi
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 6 tuần tuổi
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 7 tuần tuổi
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 7 tuần tuổi
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 8 tuần tuổi
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 8 tuần tuổi

Ở tuần thứ tám, phôi bắt đầu thành hình, mặc dù còn nhỏ xíu nhưng cánh tay, chân có các ngón, mắt và tai bắt đầu hình thành. Có điều, nó chưa thể tự sống, nghĩa là chưa thể sống ngoài môi trường tử cung.

Thời kỳ bào thai (tuần lễ thứ chín đến khi sinh)

Chúng ta bắt đầu nói về thời kỳ phát triển cơ thể thai nhi khi được ba tháng. Khi phần lớn các cơ quan đã được hình thành, thời kỳ bào thai dành hết hoàn toàn cho sự tăng trưởng và hoàn chỉnh các bộ phận. Ở tuần lễ thứ 24 đến 26 (180 ngày sau khi thụ thai), bào thai có thể phát triển và sống được khi đưa ra ngoài tử cung. Mặc dù các kỹ thuật tân tiến có thể giúp bào thai sinh non sống sót, nhưng phần lớn trẻ sinh quá non bị chết

9w
giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 9 tuần tuổi

9 – 12 tuần:

Tuần thứ 9 là tuần phát triển rất quan trọng của bào thai, khi đó:

+ Đầu và mặt:

Đầu có trán cao và có thể nhìn thấy tai, mũi, môi và xương còn sơ khai để tạo nên gương mặt. Từ lúc này, mầm răng đã được định vị và gai vị giác đang phát triển. Thân hình đã bắt đầu thẳng, đầu đã có hình dạng rõ và phần đuôi nhỏ hầu như biến mất. Thai nhi giờ đã lớn gấp 4 lần khi mới 6 tuần và được gọi là bào thai.

+ Tim :

Giờ đã là quả tim hoàn chỉnh với 4 ngăn, tim đập khoảng 180 lần/phút, nhanh gấp đôi so với người trưởng thành.

+ Tay và chân:

Mầm tay thoạt đầu nhú lên cổ tay và các ngón, sau mọc dài ra thành cánh tay và hoàn chỉnh với chỗ gập ở cùi chỏ. Sự phát triển chân cũng theo quy trình tương tự như vậy.

Sự phát triển tiếp tục diễn ra để hoàn thiện hơn các cơ quan bộ phận khác của cơ thể thai nhi khi bước vào tuần thứ 12:

+ Mặt:

Mặt đã được tạo hình hoàn chỉnh với cằm, trán cao và chóp mũi nhỏ xíu. Đôi mắt đã phát triển hơn và mí mắt còn nhắm chặt.

  • Tay và chân: Đang bắt đầu những cử động đầu tiên. Ngón tay, chân đã định hình, móng bắt đầu mọc.
  • Da: Da thai nhi đỏ, trong và thấm được nước ối.
  • Tim: Tim đã vận hành đầy đủ, bắt đầu bơm máu đi khắp cơ thể .
  • Hệ tiêu hoá: Bao tử đã được hình thành liên kết với miệng và ruột
  • Cơ quan sinh dục: Buồng trứng hoặc tinh hoàn đã được tạo ra bên trong cơ thể. Tuy cơ quan sinh dục ngoài đã phát triển nhưng vẫn chưa thấy được giới tính qua siêu âm.
  • Hệ thống nuôi dưỡng thai nhi: Nhau thai đã hoàn chỉnh và nối vào túi noãn và trở thành hệ thống cung cấp dưỡng chất cần thiết cho sự phát triển của thai nhi và các chất cặn bã cũng được loại ra khỏi bào thai.

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 10 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 10 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 11 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 11 tuần tuổi

Lúc này thai nhi đã thực sự có hình dáng một con người và mọi đe dọa sảy thai đã được giảm thiểu. Và vào thời gian này, bạn đã có thể ngắm nhìn đứa con yêu quý của mình lần đầu tiên qua màn hình siêu âm.

Bạn nên nhớ rằng 12 tuần đầu tiên này là khoảng thời gian rất quan trọng để quyết định sự phát triển của đúa con yêu. Do vậy, bạn cần hết sức chú ý bảo vệ sức khỏe. Nếu bạn bị cảm cúm hay có vấn đề sức khỏe trong thời gian này thì cần đi khám và chữa trị một cách triệt để.

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 12 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 12 tuần tuổi

13 – 16 tuần:

Khi thai nhi được 13 – 14 tuần tuổi thì các bác sĩ có thể xác định chính xác giới tính của thai nhi thông qua siêu âm. Tử cung người mẹ đã trở nên lớn hơn và bụng cũng đã bắt đầu lộ trong thời gian này. Nhịp tim của thai nhi cũng có thể nghe khá rõ.

Thai nhi giờ đã có ngón chân và móng tay, có mí mắt và lông mày. Toàn bộ cơ thể thai nhi lúc này xuất hiện một lớp lông tơ và lớp lông tơ này sẽ tiếp tục phát triển cho tới tuần cuối cùng trước khi chào đời.

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 13 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 13 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 14 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 14 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 15 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 15 tuần tuổi

Xương thai nhi đã được kiến tạo và hệ cơ cũng đã có. Mắt bắt đầu nhạy cảm với ánh sáng dù còn nhắm, lông mi và lông mày đã bắt đầu mọc. Đến tuần thứ 16 các xương nhỏ ở tai cứng lại và thai bắt đầu nghe được tiếng động.

Vì chưa có lớp mỡ, thai nhi nhìn có vẻ gầy guộc. Thai nhi lúc này cử động nhiều hơn như đạp, mút ngón tay, nuốt nước và bài tiết trong nước ối.

Sự phát triển của thai đã rất nhanh, cho đến lúc này thì chậm dần lại nhằm giúp phổi, hệ tiêu hóa, hệ miễn dịch có thời gian hoàn thiện. Thai nhi đã có thể nghe rõ và sự tác động mạnh sẽ khiến thai quẫy đạp.

Đặc biệt,ở vào tuần thứ 15 các xét nghiệm “chọc ối” sẽ cho kết quả để phát hiện khuyết tật bẩm sinh hay hội chứng down ở trẻ. Tuy nhiên, các xét nghiệm này cũng rất nguy hiểm bởi có thể gây sẩy thai sau đó. Do vậy, bạn cần tuân thủ các hướng dẫn và lời khuyên của bác sĩ khi thực hiện các xét nghiệm này.

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 13 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 16 tuần tuổi

17- 20 tuần: Bào thai đã có thể “nghe ngóng” các tiếng động từ thế giới bên ngoài và bào thai đang không ngừng phát triển khiến người mẹ đã có dáng của một bà bầu.

Từ tuần thứ 18 bào thai bắt đầu thể hiện tính “hiếu động” của mình và giờ thì người mẹ đã cảm thấy rất rõ những chuyển động do các bắp thịt và hệ thần kinh của thai nhi đã phát triển.

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 17 tuần tuổi

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 17 tuần tuổi

18 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 18 tuần tuổi

Những chiếc răng sữa đầu tiên đang được hình thành dưới lợi vào tuần thứ 19. Bước sang tuần thứ 20, toàn bộ cơ thể thai nhi sẽ được phủ một lớp “sáp mỏng” giúp bảo vệ làn da của bé khỏi môi trường nước ối hiệu quả hơn. Và hầu hết các cơ quan chính yếu quan trọng của cơ thể đã hoạt động được.

19 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 19 tuần tuổi

20 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 20 tuần tuổi

Đây cũng là khoảng thời gian mà các bà mẹ nên sắp xếp lịch hẹn khám và siêu âm định kỳ với bác sĩ để theo dõi sự phát triển của thai nhi trong các giai đoạn sau của quá trình mang thai.

21 – 24 tuần:

Vào tuần thứ 21, người mẹ có thể sẽ cảm thấy nhịp thở gấp hơn vì tử cung lúc này đang chèn ép cơ hoành, bắt đầu “xâm lấn” không gian của phổi. Khi bào thai được 22 tuần tuổi sẽ có sự phát triển các giác quan: vị giác được hình thành với sự “nảy chồi” của lưỡi.

21 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 21 tuần tuổi

22 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 22 tuần tuổi

Thai nhi trong cứng cáp hơn, khung xương tiếp tục phát triển và xương sọ đã bắt đầu cứng lại nhưng chưa hoàn thiện (vì khi sinh ra em bé có thóp và phát triển tiếp theo về sau này).

Đặc biệt trong thời gian này, da vẫn mỏng nhưng không còn trong suốt, màu da lúc này đã ửng hồng và phần nào còn nhăn nheo vì lớp mỡ dưới da chưa được tạo ra đầy đủ và từ tuần thứ 22 đến 24 thì mắt thai nhi đã mở.

23 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 23 tuần tuổi

24 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 24 tuần tuổi

25 – 28 tuần:

Tất cả các cơ quan bộ phận của cơ thể đã hoàn chỉnh và đây là giai đoạn phát triển chiều cao và cân nặng của thai nhi.

Lúc này, da dẻ của thai nhi không còn trong suốt nữa mà ngày càng “đục’ dần (không còn nhìn thấy các mạch máu nhỏ dưới da) và da giống khi bé được sinh ra.

Người mẹ nên đi khám thai định kỳ để theo dõi sự phát triển của thai nhi và để chắc chắn rằng thai nhi đang phát triển khỏe mạnh.

25 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 25 tuần tuổi

26 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 26 tuần tuổi

27 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 27 tuần tuổi

28 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 28 tuần tuổi

29 – 32 tuần:

Bà bầu có thể mắc chứng tê tê buồn buồn khi bước sang tuần thứ 29, cảm giác như có con gì bò trong chân và gây ra sự khó chịu cho các bà bầu.

29 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 29 tuần tuổi

Nếu bước sang tuần thứ 30, bạn cũng đã bắt đầu cảm nhận được các cơn co dạ con nhè nhẹ, những cơn co này không tuân theo quy luật và không gây đau. Do vậy nếu các cơn co dạ con gây đau bạn cần đến bác sĩ khám vì đó có thể là dấu hiệu của việc chuyển dạ sớm.

30 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 30 tuần tuổi

Khi ở vào khoảng tuần thứ 31, 32 là lúc mà thai nhi đã có thể nhìn và phân biệt được sáng tối. Bên cạnh đó, não phát triển khá lớn với lớp chất béo bảo vệ bao bọc các sợi thần kinh.

31 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 31 tuần tuổi

32 tuần

32 tuần

33 -36 tuần: Ở vào thời gian này thai nhi có hình dáng hoàn chỉnh, đầu phát triển cân đối với thân hình.

* Mặt: Da mặt láng hơn, các nếp nhăn biến mất. Mắt thai nhi giờ đây khép mở liên tục, rất nhạy cảm với ánh sáng bên ngoài thành bụng mẹ.

* Tay và chân: Tay và chân đã phát triển, các cơ bắp và dây thần kinh đã liên kết với nhau cho phép phối hợp các hoạt động nhịp nhàng.

33 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 33 tuần tuổi

34 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 34 tuần tuổi

Thời kỳ này, thai nhi đã nằm ổn định ở vị trí chúc đầu xuống. Và người mẹ có cảm giác ăn no nhanh hơn do bào thai chèn ép dạ dày. Do vậy, bà mẹ hãy ăn thành nhiều bữa vào bất cứ khi nào cảm thấy đói. Đồng thời, bạn cũng nên đến khám định kỳ để theo dõi sự phát triển của thai nhi và kiểm tra tư thế nằm của thai nhi.

35 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 35 tuần tuổi

36 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 36 tuần tuổi

37 – 41 tuần:

Khi bước sang tuần thứ 37 của thai kỳ, phổi của thai nhi đã sẵn sàng để trở thành một cá thể độc lập. Vào những tuần cuối cùng này chính là thời điểm thai nhi tập trung vào để tăng trưởng về trọng lượng cơ thể.

Đây cũng là thơi kỳ chuẩn bị cho sự chuyển dạ của bà mẹ. Lúc này, tư thế của thai nhi trong tử cung được gọi là ngôi thai. Tư thế này được xác định theo vị trí của đầu thai nhi phía trên hoặc phía dưới trong khoang chậu. Tư thế thường có của thai nhi là đầu ở phía trên hoặc phía dưới còn gọi là ngôi dọc. Trong trường hợp khi chuyển dạ, thai nhi nằm ở ngôi ngược, ngôi ngang, ngôi chéo thì có nhiều khả năng bà mẹ phải sinh mổ.

37 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 37 tuần tuổi

38 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 38 tuần tuổi

39 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 39 tuần tuổi

40 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 40 tuần tuổi

41 tuần

giai đoạn phát triển của thai nhi: Thai nhi 41 tuần tuổi

Nói chung

Bào thai lớn nhanh, đặc biệt ba tháng cuối thai kỳ. Lúc sáu tháng, bào thai có chiều dài trung bình từ 25 đến 30cm và cân nặng từ 454g hoặc 681g cân Anh. Thai nhi lên cân nhanh khoảng 900g mỗi tháng và tiếp tục lên để trẻ sinh ra bình quân cân nặng từ 2,7kg đến 3,8kg, chiều dài khoảng 52,5cm. Trọng lượng trẻ sơ sinh trên 2,2 kg được coi là bình thường.

Sự phát triển các cơ quan sinh dục

Các cơ quan sinh dục được phát triển trong thời kỳ đầu bào thai. Cho tới khi điều này xảy ra, tất cả phôi đều có hình dạng giống nhau. Chúng cũng có cơ quan sinh dục gọi là tuyến sinh dục và sau đó trở thành tinh hoàn ở nam và buồng trứng ở nữ.

Nếu bào thai có cặp nhiễm sắc thể nam XY (đã nói ở trước, một chất gọi là kháng nguyên HY sẽ bắt đầu sản sinh trong tuần thứ bảy của thai kỳ. Chất kháng nguyên HY sẽ tạo ra tuyến sinh dục trung tính trước đó để tạo thành tinh hoàn. Tinh hoàn này bắt đầu sản xuất hóc môn nam testosterons.

Testosterons cũng làm hệ sinh sản nam và cơ quan sinh dục ngoài phát triển. Với dương vật có thể thấy vào khoảng tuần mười hai của thai kỳ.

Nếu những ảnh hưởng của hóc môn nam không hiện diện ở thời điểm này, đứa bé sẽ phát triển đặc tính của bé gái mặc dù nó có cặp nhiễm sắc thể XY.

Nếu bào thai có cặp nhiễm sắc thể XX, các tuyến sinh dục chưa biệt hoá sẽ phát triển thành buồng trứng. Từ tuần lễ thứ mười bốn, cơ quan sinh dục ngoài sẽ là của bé gái.

Cảm nhận bào thai chuyển động

Có một sự kiện xảy ra trong thai, thường là nỗi quan tâm lớn cho cha mẹ. Ðôi khi vào khoảng bốn tháng rưỡi người mẹ sẽ cảm thấy bào thai máy động. Ðầu tiên, đơn giản chỉ là một cảm giác mơ hồ được biết như một sự máy động. Tuy nhiên không lâu sau đó bào thai sẽ cử động khá mạnh làm cho có cảm giác như bị thúc và có thể thấy được ở bụng người mẹ, nhất là từ tháng thứ năm trở đi. Nhưng tới cuối thai kỳ, những cử động đó không còn thấy rõ nữa (mặc dù chúng vẫn còn) vì bào thai di chuyển xuống dưới hơn.

Trên đây là những điều cơ bản về sự phát triển của thai nhi trong suốt quá trình mang thai. Bạn nên hiểu rõ quá trình phát triển của thai nhi, giúp chăm sóc khi bé yêu còn trong bụng mẹ và có những chuẩn bị tốt nhất cho sự chào đời của bé yêu. Điều đó thể hiện tình yêu bao la của bạn với đứa con bé bỏng của mình!

Tham khảo và tổng hợp từ choicungbe.com

Nguồn:

http://bacsihoasung.wordpress.com/2009/05/15/seri-anh-cac-gia-doan-phat-trien-cua-thai-nhi/

Martin Heidegger và siêu hình họ

Martin Heidegger và siêu hình học
Đọc tiếp

E.Husserl (1859 – 1938) – Nhà hiện tượng học (II)

Giới thiệu danh nhân triết học
E.Husserl (1859 – 1938) – Nhà hiện tượng học (II)
Đọc tiếp

E.Husserl (1859 – 1938) – Nhà hiện tượng học

Giới thiệu danh nhân triết học

E.Husserl (1859 – 1938) – Nhà hiện tượng học

Đọc tiếp

Le mot “aimer” dans le Nouveau Testament

Le mot “aimer” dans le Nouveau Testament

Évangile selon Saint Matthieu
Bible de Jérusalem
5,43 “Vous avez entendu qu’il a été dit : Tu aimeras ton prochain et tu haïras ton ennemi.
5,44 Eh bien ! moi je vous dis : Aimez vos ennemis, et priez pour vos persécuteurs,
5,46 Car si vous aimez ceux qui vous aiment, quelle récompense aurez-vous ? Les publicains eux-mêmes n’en font-ils pas autant ?
6,5 “Et quand vous priez, ne soyez pas comme les hypocrites : ils aiment, pour faire leurs prières, à se camper dans les synagogues et les carrefours, afin qu’on les voie. En vérité je vous le dis, ils tiennent déjà leur récompense.
6,24 “Nul ne peut servir deux maîtres : ou il haïra l’un et aimera l’autre, ou il s’attachera à l’un et méprisera l’autre. Vous ne pouvez servir Dieu et l’Argent.
10,37 “Qui aime son père ou sa mère plus que moi n’est pas digne de moi. Qui aime son fils ou sa fille plus que moi n’est pas digne de moi.
14,33 Ceux qui étaient dans la barque se prosternèrent devant lui, en disant : “Vraiment, tu es Fils de Dieu !”
19,19 honore ton père et ta mère, et tu aimeras ton prochain comme toi-même” –
22,37 Jésus lui dit : “Tu aimeras le Seigneur ton Dieu de tout ton coeur, de toute ton âme et de tout ton esprit :
22,39 Le second lui est semblable : Tu aimeras ton prochain comme toi-même.
23,6 Ils aiment à occuper le premier divan dans les festins et les premiers sièges dans les synagogues,
26,10 Jésus s’en aperçut et leur dit : “Pourquoi tracassez-vous cette femme ? C’est vraiment une bonne oeuvre qu’elle a accomplie pour moi.
27,54 Quant au centurion et aux hommes qui avec lui gardaient Jésus, à la vue du séisme et de ce qui se passait, ils furent saisis d’une grande frayeur et dirent : “Vraiment celui-ci était fils de Dieu !”
Évangile selon Saint Marc
Bible de Jérusalem
12,30 et tu aimeras le Seigneur ton Dieu de tout ton coeur, de toute ton âme, de tout ton esprit et de toute ta force.
12,31 Voici le second : Tu aimeras ton prochain comme toi-même. Il n’y a pas de commandement plus grand que ceux-là.”
12,33 l’aimer de tout son coeur, de toute son intelligence et de toute sa force, et aimer le prochain comme soi-même, vaut mieux que tous les holocaustes et tous les sacrifices.”
14,70 Mais de nouveau il niait. Peu après, à leur tour, les assistants disaient à Pierre : “Vraiment tu en es ; et d’ailleurs tu es Galiléen.”
15,39 Voyant qu’il avait ainsi expiré, le centurion, qui se tenait en face de lui, s’écria : “Vraiment cet homme était fils de Dieu !”
Évangile selon Saint Luc
Bible de Jérusalem
6,27 “Mais je vous le dis, à vous qui m’écoutez : Aimez vos ennemis, faites du bien à ceux qui vous haïssent,
6,32 Que si vous aimez ceux qui vous aiment, quel gré vous en saura-t-on ? Car même les pécheurs aiment ceux qui les aiment.
6,35 Au contraire, aimez vos ennemis, faites du bien et prêtez sans rien attendre en retour. Votre récompense alors sera grande, et vous serez les fils du Très-Haut, car il est bon, Lui, pour les ingrats et les méchants.
7,5 il aime en effet notre nation, et c’est lui qui nous a bâti la synagogue.”
7,42 Comme ils n’avaient pas de quoi rembourser, il fit grâce à tous deux. Lequel des deux l’en aimera le plus ?”
9,27 “Je vous le dis vraiment, il en est de présents ici même qui ne goûteront pas la mort, avant d’avoir vu le Royaume de Dieu.”
10,27 Celui-ci répondit : “Tu aimeras le Seigneur, ton Dieu, de tout ton coeur, de toute ton âme, de toute ta force et de tout ton esprit ; et ton prochain comme toi-même” –
11,43 Malheur à vous, les Pharisiens, qui aimez le premier siège dans les synagogues et les salutations sur les places publiques !
12,44 Vraiment, je vous le dis, il l’établira sur tous ses biens.
16,13 “Nul serviteur ne peut servir deux maîtres : ou il haïra l’un et aimera l’autre, ou il s’attachera à l’un et méprisera l’autre. Vous ne pouvez servir Dieu et l’Argent.”
20,46 “Méfiez-vous des scribes qui se plaisent à circuler en longues robes, qui aiment les salutations sur les places publiques, et les premiers sièges dans les synagogues et les premiers divans dans les festins,
21,3 et il dit : “Vraiment, je vous le dis, cette veuve qui est pauvre a mis plus qu’eux tous.
Évangile selon Saint Jean
Bible de Jérusalem
1,47 Jésus vit Nathanaël venir vers lui et il dit de lui : “Voici vraiment un Israélite sans détours.”
3,35 Le Père aime le Fils et a tout remis dans sa main.
4,42 et ils disaient à la femme : “Ce n’est plus sur tes dires que nous croyons ; nous l’avons nous-mêmes entendu et nous savons que c’est vraiment lui le sauveur du monde.”
5,20 Car le Père aime le Fils, et lui montre tout ce qu’il fait ; et il lui montrera des oeuvres plus grandes que celles-ci, à vous en stupéfier.
6,14 A la vue du signe qu’il venait de faire, les gens disaient : “C’est vraiment lui le prophète qui doit venir dans le monde.”
6,55 Car ma chair est vraiment une nourriture et mon sang vraiment une boisson.
7,26 Et le voilà qui parle ouvertement sans qu’ils lui disent rien ! Est-ce que vraiment les autorités auraient reconnu qu’il est le Christ ?
7,28 Alors Jésus, enseignant dans le Temple, s’écria : “Vous me connaissez et vous savez d’où je suis ; et pourtant ce n’est pas de moi-même que je suis venu, mais il m’envoie vraiment, celui qui m’a envoyé. Vous, vous ne le connaissez pas.
7,40 Dans la foule, plusieurs, qui avaient entendu ces paroles, disaient : “C’est vraiment lui le prophète !”
8,31 Jésus dit alors aux Juifs qui l’avaient cru : “Si vous demeurez dans ma parole, vous êtes vraiment mes disciples
8,42 Jésus leur dit : “Si Dieu était votre Père, vous m’aimeriez, car c’est de Dieu que je suis sorti et que je viens ; je ne viens pas de moi-même ; mais lui m’a envoyé.
10,17 c’est pour cela que le Père m’aime, parce que je donne ma vie, pour la reprendre.
11,3 Les deux soeurs envoyèrent donc dire à Jésus : “Seigneur, celui que tu aimes est malade.”
12,25 Qui aime sa vie la perd ; et qui hait sa vie en ce monde la conservera en vie éternelle.
13,34 Je vous donne un commandement nouveau : vous aimer les uns les autres ; comme je vous ai aimés, aimez-vous les uns les autres.
14,15 Si vous m’aimez, vous garderez mes commandements ;
14,21 Celui qui a mes commandements et qui les garde, c’est celui-là qui m’aime ; or celui qui m’aime sera aimé de mon Père ; et je l’aimerai et je me manifesterai à lui.”
14,23 Jésus lui répondit : “Si quelqu’un m’aime, il gardera ma parole, et mon Père l’aimera et nous viendrons vers lui et nous nous ferons une demeure chez lui.
14,24 Celui qui ne m’aime pas ne garde pas mes paroles ; et la parole que vous entendez n’est pas de moi, mais du Père qui m’a envoyé.
14,31 mais il faut que le monde reconnaisse que j’aime le Père et que je fais comme le Père m’a commandé. Levez-vous ! Partons d’ici !
15,12 Voici quel est mon commandement : vous aimer les uns les autres comme je vous ai aimés.
15,17 Ce que je vous commande, c’est de vous aimer les uns les autres.
15,19 Si vous étiez du monde, le monde aimerait son bien ; mais parce que vous n’êtes pas du monde, puisque mon choix vous a tiré du monde, pour cette raison, le monde vous hait.
16,27 car le Père lui-même vous aime, parce que vous m’aimez et que vous croyez que je suis sorti d’auprès de Dieu.
17,8 car les paroles que tu m’as données, je les leur ai données, et ils les ont accueillies et ils ont vraiment reconnu que je suis sorti d’auprès de toi, et ils ont cru que tu m’as envoyé.
21,15 Quand ils eurent déjeuné, Jésus dit à Simon-Pierre : “Simon, fils de Jean, m’aimes-tu plus que ceux-ci ?” Il lui répondit : “Oui, Seigneur, tu sais que je t’aime.” Jésus lui dit : “Pais mes agneaux.”
21,16 Il lui dit à nouveau, une deuxième fois : “Simon, fils de Jean, m’aimes-tu” — “Oui, Seigneur, lui dit-il, tu sais que je t’aime.” Jésus lui dit : “Pais mes brebis.”
21,17 Il lui dit pour la troisième fois : “Simon, fils de Jean, m’aimes-tu ?” Pierre fut peiné de ce qu’il lui eût dit pour la troisième fois : “M’aimes-tu” , et il lui dit : “Seigneur, tu sais tout, tu sais bien que je t’aime.” Jésus lui dit : “Pais mes brebis.
Actes des Apôtres
Bible de Jérusalem
4,27 Oui vraiment, ils se sont rassemblés dans cette ville contre ton saint serviteur Jésus, que tu as oint, Hérode et Ponce Pilate avec les nations païennes et les peuples d’Israël,
5,39 mais si vraiment elle vient de Dieu, vous n’arriverez pas à les détruire. Ne risquez pas de vous trouver en guerre contre Dieu.” On adopta son avis.
9,26 Arrivé à Jérusalem, il essayait de se joindre aux disciples, mais tous en avaient peur, ne croyant pas qu’il fût vraiment disciple.
Épître de Saint Paul aux Romains
Bible de Jérusalem
5,8 mais la preuve que Dieu nous aime, c’est que le Christ, alors que nous étions encore pécheurs, est mort pour nous.
7,15 Vraiment ce que je fais je ne le comprends pas : car je ne fais pas ce que je veux, mais je fais ce que je hais.
8,28 Et nous savons qu’avec ceux qui l’aiment, Dieu collabore en tout pour leur bien, avec ceux qu’il a appelés selon son dessein.
9,20 O homme ! vraiment, qui es-tu pour disputer avec Dieu ? L’oeuvre va-t-elle dire à celui qui l’a modelée : Pourquoi m’as-tu faite ainsi ?
13,8 N’ayez de dettes envers personne, sinon celle de l’amour mutuel. Car celui qui aime autrui a de ce fait accompli la loi.
13,9 En effet, le précepte : Tu ne commettras pas d’adultère, tu ne tueras pas, tu ne voleras pas, tu ne convoiteras pas, et tous les autres se résument en cette formule : Tu aimeras ton prochain comme toi-même.
Première épître de Saint Paul aux Corinthiens
Bible de Jérusalem
2,9 mais, selon qu’il est écrit, nous annonçons ce que l’oeil n’a pas vu, ce que l’oreille n’a pas entendu, ce qui n’est pas monté au coeur de l’homme, tout ce que Dieu a préparé pour ceux qui l’aiment.
7,31 ceux qui usent de ce monde, comme s’ils n’en usaient pas vraiment. Car elle passe, la figure de ce monde.
8,3 mais si quelqu’un aime Dieu, celui-là est connu de lui.
14,19 mais dans l’assemblée, j’aime mieux dire cinq paroles avec mon intelligence, pour instruire aussi les autres, que 10.000 en langue.
16,22 Si quelqu’un n’aime pas le Seigneur, qu’il soit anathème ! “Maran atha.”
16,24 Je vous aime tous dans le Christ Jésus.
Deuxième épître de Saint Paul aux Corinthiens
Bible de Jérusalem
1,9 Vraiment, nous avons porté en nous-mêmes notre arrêt de mort, afin d’apprendre à ne pas mettre notre confiance en nous-mêmes mais en Dieu, qui ressuscite les morts.
7,8 Vraiment, si je vous ai attristés par ma lettre, je ne le regrette pas. Et si je l’ai regretté — je vois bien que cette lettre vous a, ne fût-ce qu’un moment, attristés –
9,7 Que chacun donne selon ce qu’il a décidé dans son coeur, non d’une manière chagrine ou contrainte ; car Dieu aime celui qui donne avec joie.
11,11 Pourquoi ? Parce que je ne vous aime pas ? Dieu le sait.
Épître de Saint Paul aux Galates
Bible de Jérusalem
3,21 La Loi s’opposerait donc aux promesses de Dieu ? Certes non ! En effet, si nous avait été donnée une loi capable de communiquer la vie, alors vraiment la justice procéderait de la loi.
5,14 Car une seule formule contient toute la Loi en sa plénitude : Tu aimeras ton prochain comme toi-même.
Épître de Saint Paul aux Ephésiens
Bible de Jérusalem
1,17 Daigne le Dieu de notre Seigneur Jésus Christ, le Père de la gloire, vous donner un esprit de sagesse et de révélation, qui vous le fasse vraiment connaître !
5,25 Maris, aimez vos femmes comme le Christ a aimé l’Eglise : il s’est livré pour elle,
5,28 De la même façon les maris doivent aimer leurs femmes comme leurs propres corps. Aimer sa femme, c’est s’aimer soi-même.
5,33 Bref, en ce qui vous concerne, que chacun aime sa femme comme soi-même, et que la femme révère son mari.
6,24 La grâce soit avec tous ceux qui aiment notre Seigneur Jésus Christ, dans la vie incorruptible !
Épître de Saint Paul aux Philippiens
Bible de Jérusalem
1,8 Oui, Dieu m’est témoin que je vous aime tous tendrement dans le coeur du Christ Jésus !
1,15 Certains, il est vrai, le font par envie, en esprit de rivalité, mais pour les autres, c’est vraiment dans de bons sentiments qu’ils prêchent le Christ.
2,20 Je n’ai vraiment personne qui saura comme lui s’intéresser d’un coeur sincère à votre situation :
Épître de Saint Paul aux Colossiens
Bible de Jérusalem
3,19 Maris, aimez vos femmes, et ne leur montrez point d’humeur.
Première épître de Saint Paul aux Thessaloniciens
Bible de Jérusalem
4,9 Sur l’amour fraternel, vous n’avez pas besoin qu’on vous écrive, car vous avez personnellement appris de Dieu à vous aimer les uns les autres,
Épître de Saint Paul à Tite
Bible de Jérusalem
2,4 ainsi elles apprendront aux jeunes femmes à aimer leur mari et leurs enfants,
3,15 Tu as le salut de tous ceux qui sont avec moi. Salue ceux qui nous aiment dans la foi. La grâce soit avec vous tous !
Épître aux Hébreux
Bible de Jérusalem
12,6 Car celui qu’aime le Seigneur, il le corrige, et il châtie tout fils qu’il agrée.
Épître de Saint Jacques
Bible de Jérusalem
1,12 Heureux homme, celui qui supporte l’épreuve ! Sa valeur une fois reconnue, il recevra la couronne de vie que le Seigneur a promise à ceux qui l’aiment.
2,5 Ecoutez, mes frères bien-aimés : Dieu n’a-t-il pas choisi les pauvres selon le monde comme riches dans la foi et héritiers du Royaume qu’il a promis à ceux qui l’aiment ?
2,8 Si donc vous accomplissez la Loi royale suivant l’Ecriture : Tu aimeras ton prochain comme toi-même, vous faites bien ;
Première épître de Saint Pierre
Bible de Jérusalem
1,8 Sans l’avoir vu vous l’aimez ; sans le voir encore, mais en croyant, vous tressaillez d’une joie indicible et pleine de gloire,
1,22 En obéissant à la vérité, vous avez sanctifié vos âmes, pour vous aimer sincèrement comme des frères. D’un coeur pur, aimez-vous les uns les autres sans défaillance,
2,17 Honorez tout le monde, aimez vos frères, craignez Dieu, honorez le roi.
3,10 Qui veut, en effet, aimer la vie et voir des jours heureux doit garder sa langue du mal et ses lèvres des paroles fourbes,
Première épître de Saint Jean
Bible de Jérusalem
2,5 Mais celui qui garde sa parole, c’est en lui vraiment que l’amour de Dieu est accompli. A cela nous savons que nous sommes en lui.
2,10 Celui qui aime son frère demeure dans la lumière et il n’y a en lui aucune occasion de chute.
2,15 N’aimez ni le monde ni ce qui est dans le monde. Si quelqu’un aime le monde, l’amour du Père n’est pas en lui.
3,10 A ceci sont reconnaissables les enfants de Dieu et les enfants du diable : quiconque ne pratique pas la justice n’est pas de Dieu, ni celui qui n’aime pas son frère.
3,11 Car tel est le message que vous avez entendu dès le début : nous devons nous aimer les uns les autres,
3,14 Nous savons, nous, que nous sommes passés de la mort à la vie, parce que nous aimons nos frères. Celui qui n’aime pas demeure dans la mort.
3,23 Or voici son commandement : croire au nom de son Fils Jésus Christ et nous aimer les uns les autres comme il nous en a donné le commandement.
4,7 Bien-aimés, aimons-nous les uns les autres, puisque l’amour est de Dieu et que quiconque aime est né de Dieu et connaît Dieu.
4,8 Celui qui n’aime pas n’a pas connu Dieu, car Dieu est Amour.
4,11 Bien-aimés, si Dieu nous a ainsi aimés, nous devons, nous aussi, nous aimer les uns les autres.
4,20 Si quelqu’un dit : “J’aime Dieu” et qu’il déteste son frère, c’est un menteur : celui qui n’aime pas son frère, qu’il voit, ne saurait aimer le Dieu qu’il ne voit pas.
4,21 Oui, voilà le commandement que nous avons reçu de lui : que celui qui aime Dieu aime aussi son frère.
5,1 Quiconque croit que Jésus est le Christ est né de Dieu ; et quiconque aime celui qui a engendré aime celui qui est né de lui.
Deuxième épître de Saint Jean
Bible de Jérusalem
1,1 Moi, l’Ancien, à la Dame élue et à ses enfants, que j’aime en vérité — non pas moi seulement, mais tous ceux qui ont connu la Vérité –
Troisième épître de Saint Jean
Bible de Jérusalem
1,1 Moi, l’Ancien, au très cher Gaïus, que j’aime en vérité.
Apocalypse
Bible de Jérusalem
1,5 et par Jésus Christ, le témoin fidèle, le Premier-né d’entre les morts, le Prince des rois de la terre. Il nous aime et nous a lavés de nos péchés par son sang,
3,19 Ceux que j’aime, je les semonce et les corrige. Allons ! Un peu d’ardeur, et repens-toi !

QUAN NIỆM TÔNG ĐỒ LINH MỤC

QUAN NIỆM TÔNG ĐỒ LINH MỤC
Theo Cha Chevirier

Phỏng dịch
“’Apostolat Sacerdotal Của Đức Giám mục A. Ancel

Imprimatur
Xuân Lộc, ngày 14 -09-1971
+Giuse Lê Văn Ấn
Giám mục

Quan niệm tông đồ của cha Chevrier được lọc qua những trang sách Phúc âm Chúa Giêsu và các thư thánh Phao lô. Những nguyên tắc tông đồ này có một tính cách rất bất biến mặc dầu những biến cố xảy ra trong mỗi thời đại, trong mỗi lãnh vực và nơi mỗi cá nhân. “Trời đất sẽ qua, Chúa phán, nhưng lời Ta sẽ không qua” (Mt 13,31).

Chúng ta sẽ nói về quan niệm rồi đến phương pháp tông đồ.

Vị tông đồ.

THẾ NÀO LÀ TÔNG ĐỒ ĐÍCH THỰC ?
Đọc tiếp